Bệnh tiểu đường thai kỳ

Chứng tiểu đường thai kỳ đã được nhắc qua trong loạt bài viết về  Bệnh tiểu đường và hydrat cacbon nhưng tôi không viết chi tiết về mục này bởi vì nó đặc biệt và ít người bị nên bệnh tiểu đường ngay cả trong giới chuyên môn vẫn chỉ tập trung vào chứng tiểu đường bẩm sinh (loại 1) và chứng tiểu đường loại 2 (do quá trình sống nhiều năm kém khoa học )

1/ Đặc tính của bệnh tiểu đường do thai kỳ

a. Nguyên nhân gây bệnh tiểu đường thai kỳ?

Xét cho cùng, nhiều chuyên gia sẽ cân nhắc chứng tiểu đường thai kỳ thuộc vào bệnh tiểu đường loại 2? Why? Bởi vì nguyên nhân gây bệnh tiểu đường xét đi xét lại cũng chỉ có 2 thứ: (1) bẩm sinh đã có nhóm tế bào bê ta bị hỏng nên không sản xuất được insulin để đối phó với đường glucose, và (2) lối sinh hoạt không khoa học lâu ngày (hay ngắn ngày) làm cơ thể mất kiểm soát việc sản xuất insulin HOẶC cơ thể không xài được insulin.

Dựa vào định nghĩa trên, người ta cho rằng tiểu đường thai kỳ không liên quan đến gen di truyền (bẩm sinh), và khả năng còn lại là do nguyên nhân gây ra tiểu đường loại 2. Những phụ nữ bị tiểu đường loại 2 có thể do vài lý do như sau

Lý do #1: Dư thừa cân nặng không đáng có (đồng nghĩa bạn ăn nhiều thức ăn chứa hydrat cacbon thứ cuối cùng bị phân hủy thành glucose chuyển vào máu). Tuy nhiên, bạn phải ăn ghê lắm và tăng rất nhiều kg mới thành ra bệnh trong thời gian thai sản ngắn như vậy.

Lý do #2: Tuy vậy, nếu người khỏe mạnh dù có mấy tháng ăn uống thiếu khoa học thì cũng không thành bệnh tiểu đường, nhưng vì chị em đang trong kỳ thai sản sẽ gặp khó khăn trong việc dùng insulin. Ý là nhiều hóc môn trong nhau thai sẽ ngăn cản cơ thể mẹ dùng insulin và điều đó đồng nghĩa người mẹ sẽ có quá nhiều đường glucose không tiêu hóa và sẽ bị xả vào máu. Và đây là hiện tượng của chứng tiểu đường.

b. Ai dễ bị chứng này?

Mục này ghi ra để các bạn biết mà phòng để giảm thiểu nguy cơ đến mức nhỏ nhất, chứ không phải ai trong nhóm này sẽ 100% bị tiểu đường thai kỳ (nên đừng hoảng khi bạn nằm trong danh sách này)

Sau khi đọc phần trên bạn sẽ thấy những người ăn uống nhiều dẫn đến dư thừa cân trong quá trình thai sản cộng thêm ĐẶC TRƯNG của quá trình sinh nở sẽ thấy nhóm phụ nữ này sẽ có nguy cơ bị chứng tiểu đường cao hơn nhiều so với những phụ nữ khác biết cách ăn uống và sinh hoạt thể chất tốt sẽ duy trì sự phát triển tốt của thai nhi và giảm thiểu khả năng bị tiểu đường thai kỳ.

Bởi vì tôi học ở Mỹ nên toàn bộ số liệu thống kê đều chỉ trong phạm vi nước Mỹ, vốn có chế độ là lề lối ăn uống sinh hoạt khác với những nước khác, đặc biệt là VN nên số liệu thống kê có thể cao hơn hay thấp hơn trong cộng đồng người Việt. Theo thống kê của Hội Tiểu Đường của Mỹ, khoảng 10% phụ nữ trong kỳ thai sản ở nước này sẽ bị hội chứng tiểu đường thai kỳ.

  • Tuy nói tiểu đường do thai kỳ không phải bẩm sinh nhưng trên thực tế ai có cha mẹ hay anh chị em có bệnh tiểu đường thì người phụ nữ này sẽ có nguy cơ bị tiểu đường thai kỳ cao hơn.
  • Phụ nữ sinh con sau 25 tuổi cũng có nguy cơ bị tiểu đường thai kỳ cao hơn.
  • Chỉ số BMI của thai phụ vượt quá mức 29 càng có khả năng bị tiểu đường loại 2 cao hơn
  • Bé sinh ra ở mức 4.1 kg là dấu hiệu mẹ bé có thể bị tiểu đường thai kỳ (coi phần sau sẽ rõ). Gần đây tôi đọc được là bé sinh ra cân 4.5 kg trở lên có nguy cơ lớn lên thành người thừa cân và béo phì cao hơn các bé khác.

2/ Bệnh tiểu đường thai kỳ gây những thiệt hại gì?

Tin tốt cho bạn: bệnh tiểu đường thai kỳ thông thường sẽ biến mất ở người mẹ sau khi sinh (từ vài tháng đến 1 năm). Điều kiện để bệnh biến mất là bạn phải đối phó với nó đúng cách dưới sự kiểm soát của bác sĩ vì họ là người duy nhất có thể kiểm tra sức khỏe của bạn lâu dài và cho toa thuốc nếu cần thiết. Nếu bạn tiếp tục ăn uống không đúng cách và không tụt cân thì bạn hoàn toàn có khả năng trở thành người bị tiểu đường loại 2 giống như bất kỳ ai khác.

Tin xấu#1 cho con bạn: Bởi vì insulin của mẹ không sử dụng được khiến đường huyết của mẹ tăng cao. Xui cho bé là lượng đường huyết này ào ạt chuyển vào dạ con qua nhau thai. Điều đó nghĩa là thai nhi “bị” ép ăn nhiều hơn cần thiết dẫn đến bé chưa sinh ra đã bị thừa cân.

Có nhiều bé sinh ra 4.5 kg hay to hơn nhưng vẫn sinh tự nhiên không phải sinh mổ và các bé này không bị nguy cơ gì ngoài chuyện phải đảm bảo cân nặng phát triển đúng mức chứ không sẽ bị béo phì như bao bé khác. Tuy nhiên các bé này vì mẹ không bị chứng tiểu đường do thai kỳ nên chúng may hơn không bị hệ lụy sau:

Tin xấu #2 cho con bạn: Bởi vì khi còn trong bụng mẹ đã bị đầu độc glucose từ mẹ nên cơ thể thai nhi phải sản xuất nhiều insulin để đối phó. Vậy khi bé được sinh ra đã bị hội chứng insulin khá cao. Thêm vào đó, trong những năm đầu đời nếu người chăm sóc bữa ăn không biết hạn chế đúng cách để bảo đảm bé lớn lên mà không suy dinh dưỡng, thì bé sẽ trượt dài theo xu hướng bị tiểu đường loại 2 khi bé lớn lên (có khi qua tuổi trưởng thành những người sinh ra từ mẹ bị chứng tiểu đường thai kỳ mới phát bệnh tiểu đường loại 2)

Khi bạn được bác sĩ công nhận có chứng tiểu đường thai kỳ, bạn nên tham khảo bác sĩ coi có cách nào an toàn kiểm soát đường huyết của bé để tránh bé bị tiểu đường về sau.

2/ Phòng bệnh tiểu đường do thai kỳ

Dựa vào đặc tính và nguyên nhân gây ra chứng tiểu đường thai kỳ, điều duy nhất chị em có thể làm để tự bảo vệ sức khỏe là phải theo chế độ ăn uống khoa học bằng cách tham khảo sách, tư vấn với chuyên gia dinh dưỡng hay ít ra là phải nói chuyện với những người chuyên tư vấn bệnh tiểu đường để lên kế hoạch ăn uống khoa học.

Giữ cân nặng trong mức cho phép là điều bất kỳ phụ nữ có ý định mang thai phải ghi nhớ. Nếu bạn thừa cân hay béo phì thì trước khi có thai hãy cố giảm cân. Nếu bạn thuộc loại còi thì tăng 4-5kg rồi hãy tính đến chuyện có thai vì bản thân người còm cõi không có đủ dinh dưỡng cho thai nhi phát triển trong khi trong 4 tuần đầu tính từ thời điểm trứng gặp tinh trùng (xảy ra trong vòng 30 phút sau khi xuất tinh trong) thì não và xương sống đã tái tạo xong (qua giai đoạn 4 tuần này bạn có ăn uống thế nào cũng không giúp gì cho việc phát triển hộp sọ, não, và cột sống của bé nữa).

  1. Với phụ nữ béo phì (BMI từ 30 trở lên) mà có ý định có thai thì cố gắng giữ tổng số cân tăng không quá mức: 5-9 kg.
  2. Với phụ nữ thừa cân (BMI từ 25-29.9) đến cuối thai kỳ không nên tăng hơn 6.8 – 11.4 kg
  3. Với phụ nữ bình thường (BMI từ 18.5 đến 24.9) không nên tăng quá 11.4- 16 kg.
  4. Với phụ nữ thuộc dạng gầy (BMI dưới 18.5) thì phải tăng từ 12.7 kg đến 18.2 kg.

Ví dụ bạn cao 1m55, nặng 57 kg, BMI là 23.4 (bình thường), nghĩa là bạn chỉ nên tăng tối đa đến 73kg trước ngày sinh. Nếu bạn cao 1m55, cân 62 kg, bạn thuộc nhóm thừa cân, bạn chỉ nên tăng đến mức 73 kg.

Nên lưu ý 1 điều: kể cả trường hợp sinh đôi, nếu bạn thuộc dạng bình thường trước khi có thai thì cũng không nên tăng quá 21 kg tính đến thời điểm sinh.

3/ Chăm sóc cho mẹ và bé sau thai kỳ khi mẹ bị tiểu đường do thai sản:

Với mẹ:

  1. Nếu mẹ đã được bác sĩ ra đơn thuốc hay insulin tiêm rồi thì vẫn tiếp tục kế hoạch trị tiểu đường như bác sĩ chỉ định.
  2. Mua một máy đo đường huyết cầm tay và sử dụng như sau: đo đường huyết trước bữa ăn (dưới 95 mg/dL), đo đường huyết 1 giờ sau khi ăn (dưới 140 mg/dL), và đo lần nữa 1 giờ sau (dưới 120 mg/dL). Đo như thế sau mỗi lần ăn hay uống (trừ khi nước lọc hay trà không đường). Giữ sổ tay, theo dõi một tuần nếu có trồi sụp đáng kể thì phải đi gặp bác sĩ.
  3. Giảm cân (nếu được trong mức 1-3 kg trước khi có thai càng tốt, với điều kiện mẹ không bị béo phì ở thời điểm trước khi mang thai)
  4. Tránh: cơm, cháo, nếp, bắp, bún, mì, miến (nếu ăn thì dưới 100 g cho mỗi 3 giờ), kẹo bánh, chè, sinh tố, nước trái cây (tuy nhiều dinh dưỡng nhưng sinh tố thêm đường sữa, còn nước trái cây thì dùng nhiều quả mới ép ra 1 ly nên lượng đường trong ly quá cao-nên ăn trái cây thay vì uống nước ép)
  5. Tập thể dục: tranh thủ đẩy nôi đi bộ với bé, tranh thủ thể dục như chạy nâng đùi tại chỗ, nhảy dây tại chỗ ít nhất 3 lần, mỗi lần 10 phút, tuần ít nhất 5 ngày vừa giúp giảm cân hay ít ra là tránh tăng cân, và quá trình thể dục giúp cơ thể kiểm soát đường huyết rất tốt.

Với bé:

  1. Khám bác sĩ nhi khoa, trình bày rõ ràng tình trạng của bạn và bé để họ làm xét nghiệm hay cho lời khuyên cụ thể
  2. Nếu có sữa mẹ thì nên cho bé uống 100% sữa mẹ ít nhất trong 6 tháng đầu (1  năm là lý tưởng nhất nếu được). Nếu sữa mẹ không đủ thì dùng thêm sữa bình phải có đủ sắt trong đó.
  3. Kể cả khi bé sinh ra đã thừa cân, bạn cũng phải cho bé bú đủ theo nhu cầu bé cần trong SÁU THÁNG ĐẦU.
  4. Qua 6 tháng, bạn nên xem xét thể trọng và chiều dài của bé với bác sĩ nhi khoa xem bé có thuộc loại người ngắn mà thân tròn không.
  5. Với bé 6 tháng trở lên thì bé trai không nên dùng quá 750 calories/ngày và bé gái không nên dùng quá 680 calores/ngày.

Nếu con bạn vốn thuộc loại thừa cân thì sau khi theo chế độ trên, bé có thể giảm cân từ từ nhưng cơ thể bé vẫn được bảo đảm đủ năng lượng để phát triển hoàn chỉnh.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s