Bạn biết gì về bệnh Alzheimer’s? Đối phó với bệnh thế nào?

Ngày 28 tháng 5 rồi là giỗ 9 năm của mẹ. Công nhận mình bất hiếu toàn tập theo tiêu chuẩn của văn hóa Á Châu vì từ lúc mẹ mất tới nay không chưng hình, không thắp nhang, không cúng bái, cả bàn thờ cũng không. Di vật duy nhất còn giữ là 1 chiếc nhẫn mã não bà mua từ người bán dạo (mẹ tôi lúc đó tin sái cổ việc đeo ngọc mã não “tốt cho máu”) và một tấm hình duy nhất chụp hồi tết 2003 mà tôi đã cắt ra cho vào mặt dây chuyền (locket trong tiếng Việt là gì??). Nhẫn đeo được mấy năm thì phát hiện nó trầy xước quá nên tháo ra cho vào hộp. Hình cho vào mặt dây chuyền cũng ít khi đeo vì sợ lỡ quên nhảy vào bồn tắm thì coi như cái hình duy nhất cũng tiêu luôn (biết thế đem nó đi copy ra mấy chục tấm từ trước thì khỏi lo hư mất). Mà cũng kỳ. Cả tuần trước ngày giỗ thì nhớ ngày nhưng tới khi ngày giỗ đến thì cứ lơ đi coi như không biết hôm nay ngày nào tháng mấy.

Thôi hôm nay ngày 4 tháng 6-nhân dịp tháng 6 là tháng tuyên truyền nhận thức căn bệnh Alzheimer’s- coi như năm nay con “cúng muộn” bài viết về bệnh “người già” Alzheimer’s mặc dù mẹ chưa sống đủ lâu để kinh qua cái bệnh này. E hèm, nói cho vui thôi chứ bệnh Alzheimer’s đúng ra không nên bị hiểu lầm là bệnh người già.

Học kỳ cuối cùng tôi có học một lớp Sinh Hóa có đề cập đến các chất điện não liên quan đến hoạt động của não. Trong số đó, có chất dopamine ảnh hưởng đến bệnh Parkinson và chất acetylcholine và bệnh Alzheimer’s. Nói chung, não của người bị bệnh Alzheimer’s bị tàn phá bởi 2 quy chế: (1) tế bào não bị tấn công bởi các đạm protein và (2) chất điện não bị giảm một cách bất thường.

alzheimer

Ảnh minh họa: Não bị tấn công bởi đạm prô tít bêta-amyloid. 

Bài học được từ chương đó là trong não người bệnh Alzheimer’s, hàm lượng điện não acetylcholine rất thấp. Acetycholine có vai trò giúp các tế bào não giao tiếp và truyền thông tin cho các bộ phận liên quan nhưng khi acetylcholine giảm thấp, sự giao tiếp bị mất đi và nhiều khi người bệnh có ý định cho muối vào canh nhưng tới khi cầm lọ muối thì đứng ngẩn ngơ không biết làm gì (thí dụ). Chương đó cũng nói đến hiện tượng não bị teo đi bởi vì tế bào não bị tấn công bởi các thể nang (u hay xơ) gọi là beta-amyloid (coi hình trên) theo thời gian các tế bào não khỏe mạnh bị “ngộp” bởi các khối nang này mà chức năng của não bị thoái hóa (chủ yếu là chức năng truyền dẫn thông tin trong chất điện não) cuối cùng các tế bào não chết đi. Do đó, khi giải phẫu não của người chết đã bị bệnh Alzheimer’s ở giai đọan cuối sẽ thấy não của họ nhỏ tí teo so với não của người chết không có bệnh Alzheimer’s. Đây chính là quy chế 1 của bệnh Alzheimer’s.

 

Alzheimers_brain

Ảnh minh họa: Phần trái là não của người khỏe mạnh. Phần bên phải là não của người bị Alzheimer’s thời kỳ cuối

brain shrink

Ảnh minh họa: Sự tiến hóa của bệnh Alzheimer’s ảnh hưởng đến kích thước não: Đầu tiên là giai đoạn chưa phát triệu chứng, não thứ 2 đồng nghĩa người bệnh đã có triệu chứng, và não thứ 3 đã vào giai đoạn cuối.

Trong lớp Sinh Hóa đó tôi bị ép học phản ứng cơ thể loại trừ chất điện não acetylcholine bằng cách dùng men giải acetylcholine esterase. Nhờ đó mà tôi hiểu sơ sơ về quy chế 2 gây bệnh Alzheimer: men giải điện não trong người bị bệnh alzheimer’s hoạt động Ok nhưng chất điện não tự nhiên càng lúc càng ít-do đó, muốn di trùy lượng điện não còn lại khỏi bị phân hủy bởi men giải điện thì người bệnh Alzheimer’s uống những loại thuốc có tác dụng làm giải thiểu tối đa hoạt động của men giải để hàm lượng điện não acetylcholine được duy trì. Đây chính là quy chế thứ 2 của chứng Alzheimer’s.

Theo thông tin từ trang web của Viện Sức Khỏe Quốc Gia Hòa Kỳ, bệnh Alzheimer’s được đặt tên theo họ của Bác Sĩ  Alois Alzheimer (người Đức) vì ông này phát hiện ra bệnh nhân đầu tiên qua đời vào năm 1906 bởi một chứng bệnh thần kinh không rõ nguyên nhân. Ông ấy giải phẫu não của bệnh nhân đó thì thấy não bộ của bà ta teo nhỏ và có nhiều cục u lạ và tế bào não đóng xơ.

  1. Những điều chúng ta biết về bệnh Alzheimer’s
  • Thứ nhất, bệnh này không có thuốc chữa.
  • Thứ hai, các triệu chứng bệnh có thể làm giảm nhẹ-qua đó giúp bệnh nhân kéo dài thời gian trước khi chứng mất trí xảy ra.
  • Thứ ba, bệnh Alzheimer’s không phải chỉ xảy ra với người lớn tuổi mặc dù nguy cơ tăng cao ở người trên 50 tuổi. Theo thống kê, rất nhiều trường hợp bệnh nhân trong độ tuổi 20-40 đã phát bệnh chứ không riêng gì nhóm người trên 50 tuổi.
  1. Cuối cùng, bệnh Alzheimer’s chỉ là một trong nhiều hiện tượng của chứng mất trí (chứng mất trí có thể xảy ra chấn thương, não tổn thương do các chứng bệnh khác như chứng Down).
  1. Chúng ta không biết gì về bệnh Alzheimer’s?

Đến nay, vẫn không có kết luận nguyên nhân gây bệnh Alzheimer’s.

Tại sao một người từ khỏe mạnh một hôm bắt đầu có hiện tượng của bệnh Alzheimer’s là chuyện không ai giải thích được. Có thể do đột biến gene như ai có bệnh Down thì có nguy cơ bị Alzheimer’s cao hơn người không bị đột biến gene. Giới y khoa chỉ có thể làm một lượt bài xét nghiệm cho thấy trong máu người bệnh Alzheimer’s có hàm lượng đạm prô tít đặc biệt gọi là apolipoprotein E rất cao so với người không có bệnh. Loại apolipoprotein E này do tự cơ thể sản xuất ra chứ không phải trong thịt động vật. Bởi thế người ta nghi ngờ nếu ai có gene đột biến thì cơ thể tự sản xuất apolipoprotein E ở mức độ khác thường. Theo Reader Digest’s mà tôi đọc được thì họ ghi là khoảng 40% người bệnh Alzheimer’gene sản xuất apolipoprotein E.

Theo Hiệp Hội Alzheimer’s, hễ ai có gene di truyền gọi là APOE (viết tắt của apolipoprotein E) và các gene di truyền khác trực tiếp sản xuất ra các đạm protein khác như amyloid và prenesilin 1 và 2 thì coi như…chuẩn bị đối phó với bệnh Alzheimer’s. Thông thường thì người ta đã mắc bệnh rồi mới đi làm xét nghiệm chứ chẳng ai đi xét nghiệm từ lúc son trẻ (mà cũng phải, ai muốn biết trước ngày chết của chính mình, nhỉ?). Trớ trêu ở chỗ là bệnh alzheimer’s đã tiến triển ít ra cũng 5-10 năm rồi thì triệu chứng bệnh mới xuất hiện-không phải quá muộn thì là gì? Tuy nhiên, tôi vẫn cho rằng chẳng thà biết càng sớm càng tốt bởi vì giống như ung thư, phát hiện ra sớm chừng nào thì kéo dài thời gian sống lẫn chất lượng sống cao hơn so với ở người phát hiện bệnh quá trễ. Nói thì nói vậy chứ các nhà bảo hiểm y tế còn lâu mới chịu chi trả phí xét nghiệm gene di truyền hay xét nghiệm máu trừ phi người bệnh đã…phát ra triệu chứng (tức là đã bị bệnh 5-10 năm qua rồi). Buồn thay cho những người chạy theo đồng tiền (đang chửi xéo bọn bảo hiểm y tế và bọn chính phủ tiếp tay cho bọn thương buôn).

Cũng theo Reader Digest’s, phụ nữ độ tuổi mãn kinh sử dụng hormone nhân tạo theo liệu pháp bổ sung hormone nữ bao gồm progestin và estrogen có nguy cơ bị bệnh Alzheimer’s cao hơn sơ với các phụ nữ cũng trong độ tuổi mãn kinh không sử dụng liệu pháp hormone nữ nhân tạo.

Họ cũng đưa ra câu hỏi liệu thành phần kim loại nhôm trong một số thuốc (ví như thuốc làm giảm acid dùng trong điều trị axit trào ngược, khó tiêu v.v rất phổ biến trong nhà thuốc) và đồ dùng từ nhôm (chảo nhôm, dĩa nhôm, cốc nhôm) có làm giảm triệu chứng bệnh hay không bởi vì trong não của người bệnh Alzheimer’s có thành phần phôm cao.

Đến nay, chúng ta vẫn không thể giải thích được tại sao người cao tuổi có nguy cơ mắc bệnh Alzheimer’s cao: 1/3 người trên 85 tuổi sẽ bị bệnh Alzheimer’s.

Đến nay, người ta vẫn đặc câu hỏi liệu chấn thương đầu gây ra hôn mê (từ hôn mê vài giờ đến vài tháng) liệu có làm tăng nguy cơ bị bệnh Alzheimer’s trong tương lai?

Đến nay, giới khoa học vẫn đang tìm kiếm chứng cớ để đưa ra kết luận liệu các chứng liên quan đến hoạt động của hệ tim mạch bao gồm chứng cao huyết áp, mỡ trong máu, đột quỵ tim, trúng gió, và tiểu đường sẽ làm tăng nguy cơ mắc bệnh Alzheimer’s bởi vì não sử dụng 20% lượng oxy và ít nhất là 10% lượng đường huyết glucose trong máu để bảo đảm hoạt động não diễn ra tốt.

Tôi không phải là nhà nghiên cứu và cũng không phải là bác sĩ Y khoa chuyên khoa tim mạch hay thần kinh nên không dám “múa rìu qua mắt thợ” nhưng tôi có thể góp một lời bình luận là theo thời gian, cơ thể sẽ thoái hóa, do đó hoạt động sinh lý của cơ thể sẽ suy giảm-có thể đó là lý do vì sao mối tương qua giữa tuổi tác và bệnh Alzheimer’s được coi là luật bất thành văn?

  1. Đối phó và phòng bệnh Alzheimer’s: Dinh dưỡng, thể dục, và rèn luyện trí tuệ

Cách đối phó và phòng bệnh đến nay vẫn được các chuyên gia thử nghiệm nhưng người va vẫn cho rằng ăn uống thực phẩm giàu các chất chống oxy hóa giúp giảm thiểu hiệu ứng viêm vốn dĩ là nguyên nhân gây ra các bệnh tim mạch và rất có thể sẽ giúp người bệnh Alzheimer’s có những ngày tháng sống chất lượng tốt hơn. Các chất chống oxyhóa trong thực phẩm bao gồm: beta-carotene một dạng tiền vitamin A (trong cà rốt, cam, rau broccoli v.v), vitamin E (trong dầu chiết xuất từ trái cọ hay red palm oil, trong hạt hướng dương, tinh dầu chiết xuất từ phần vỏ cám của hạt lúa mì, trong rau bina và các loại rau xanh khác), vitamin C (ớt đỏ tươi và trái cây là chủ đạo mặc dù rau củ cũng có vitamin C).

Thêm vào danh sách trên là các chất chống oxy hóa không nằm trong nhóm vitamin như lycopene trong cà chua, selenium trong nhiều thực phẩm như hạt Brazil, hàu, cá thu tuna, cá hồi, gan bò v.v; lutein trong các loại rau có màu lá xanh đậm như rau muống, rau bina, rau dền, mồng tơi (ai có định nghĩa rau xà lách xanh là “màu lá xanh đậm” thì nhanh chóng gạch tên nó đi-tuy nó là rau  và tốt hơn cơm với phở nhưng dinh dưỡng chỉ đáng xách dép cho nhiều thứ rau củ khác bởi vì nó chỉ cung cấp chủ yếu là vitamin K và vitamin A vốn phổ biến trong hầu hết các loại rau và chất xơ thì ít)anthocyanin (rau trái có thịt màu tím/đen/xanh đậm như việt quất/blueberries, cải bắp đỏ/tím, khoai lang tím), chất resveratrol trong rượu vang đỏ, nho đỏ/đen, isoflavones trong đậu nành, đậu phụ; flavones trong cần tây celery và các loại ớt cay-ớt chuông không tính; flavanones trong họ cam, chanh, bưởi; flavonols trong lá trà, hành tây, hành lá, cải broccoli, cải xoăn kale, táo (ăn luôn vỏ), và sản phẩm có từ 70-100% cacao như bột cacao nguyên chất, kẹo chocolate đắng thành phần 70-90% cacao (sữa cacao Milo có quá ít cacao không đáng kể)

Ngoài các chất chống oxyhóa, dinh dưỡng cho não còn phải kể đến docosahexaenoic acid (DHA) và eicosapentaenoic acid (EPA) có trong các loại cá sống vùng nước lạnh tức là trong vùng nước dưới 20 độ C. Với người ăn chay, nguồn cung cấp DHA tốt nhất là dầu cá hay rong biển.

Cần phải nói thêm: cơ thể cần dinh dưỡng để hoạt động tốt. Do đó, bạn nên biết không nên tập trung vào 1-2 loại thực phẩm mà quên đi rằng những chất bạn ăn vào luôn luôn cần sự hỗ trợ của nhiều dưỡng chất khác. Thế nên bạn cố gắng thiết lập chế độ dinh dưỡng cung cấp tòan diện dinh dưỡng. Ý là vitamin B1 và B3 tuy không nổi đình đám như DHA nhưng sự thật là những vitamin này góp phần không nhỏ vào hoạt động não bộ. Và, những vitamin này cũng cần sự hỗ trợ của nhiều men giải để phát huy vai trò. Nói chung là: đừng bao giờ có suy nghĩ dưỡng chất này “quan trọng hơn” dưỡng chất khác. Mọi thức trong cơ thể con người đều liên kết với nhau theo cách này hay cách khác.

Song song đó, người ta vẫn khuyến khích sử dụng “não” càng nhiều càng tốt. Giống như cơ bắp tay chân: khi chúng ta thôi không tập tạ nữa thì cơ bắp “nhão” theo thời gian bởi vì chúng không được tập nữa. Ai chạy bộ thường xuyên bỏ đi một tháng không tập sẽ thấy khó khăn khi quay trở lại bởi vì không chỉ cơ bắp chân không còn phong độ nữa mà mô cơ trong phổi, tim, và thành mạch máu cũng “xuống cấp” nên việc hô hấp  và bơm máu do phổi và tim phụ trách cũng trở nên “chật vật”. Các tế bào não cũng hoạt động theo cùng quy chế đó: chúng ta càng sử dụng não càng nhiều càng giúp não duy trì hoạt động tốt. Một bà 65 tuổi ngày ngày ngồi coi TV so với một bà chịu khó chơi xếp hình, chơi cờ, học hỏi kiến thức mới như học làm vườn, học thêu, và chăm chỉ cuốc bộ thì não bà này ăn đứt não bà kia. Không biết việc ngồi lướt Facebook hết giờ này sang giờ nọ thì có được coi là “thể thao não” không nhỉ? Chắc cũng tùy coi người ta lướt Facebook như coi hình rồi bình luận vui hay tranh luận triết lý thì chắc khác xa nhau?

 

 

Advertisements

2 thoughts on “Bạn biết gì về bệnh Alzheimer’s? Đối phó với bệnh thế nào?

    • Với người thường kể cả phụ nữ đang mang thai hay cho con bú thì lượng omega 3 nên dùng là khoảng 8800 mg/tuần tức khoảng 125o mg/ngày. Nếu ăn cá mòi hay cá hồi tươi thì mỗi tuần ăn khoảng 350 g cá hấp/nướng/chiên tùy ý nhưng nếu chọn uống thuốc viên thì phải lưu ý 2 việc: 1 là phải chọn hãng có in trên bao bì rõ ràng “đã loại trừ thủy ngân” và 2 là phải coi cho kỹ hàm lượng omega trên bao bì. Nhiều sản phẩm ghi “fish oil 1200 mg” nhưng thực tế lượng omega 3 chỉ có khoảng 350 mg-có hãn sẽ in trên bao bì “fish oil 1200 mg, omega 360 mg” nhưng có lọ chỉ in mỗi chữ fish oil 1200 mg mà chẳng in bao nhiêu mg omega3 thì đừng mua. Mà một viên nang 1200 mg chỉ chứa 360 mg omega 3 thì mỗi ngày phải uống những 3-4 viên thì nhiều quá. Do đó hãng nào cũng chỉ ghi uống 2 viên nang. Mà nhìn chung ai có ăn cá mòi, cá hồi, cá tuna mỗi tuần 1 phần 180g thì uống mỗi ngày 2 viên nang là được chứ không cần thiết và không nên dựa vào thuốc viên 100% vì ngộ độc là chuyện không hiếm ở người có thói quen dùng thuốc bổ hàng ngày-nhất là với các loại dầu cá vì khi hãng lượt bỏ thủy ngân thì cũng theo tiêu chuẩn của nhà nước nơi hãng cho ra lò, do đó lượng thủy ngân vẫn có thể còn mà dùng liều cao và lâu ngày thì người tiêu dùng vẫn có nguy cơ bị ngộ độc. Bởi vậy thuốc bổ thường có chỉ định dùng bao nhiêu viên hàng ngày để sau này có ai đi kiện do ngộ độc thì nhà sản xuất còn có cái bia đỡ đạn!

      Liked by 1 person

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s