Bệnh tim? Nghẽn mạch máu? Ung thư? Đang hoá trị hay xạ trị? Hãy cẩn thận với vitamin E

sunflower seeds

Như tựa nói, blog này tôi sẽ viết về hai trong nhiều chất chống oxy hoá. Các chất chống oxy hoá có nhiều loại, tuy nhiên, chỉ hai trong số hàng chục loại oxy hoá là được xếp loại vitamin (vitamin nghĩa là cần thiết cho cơ thể để hoạt động tốt) và đó là vitamin E và vitamin C. Vitamin C ở VN gọi là sinh tố C, có lẽ ám chỉ nguồn gốc của C là trong nhóm trái cây. Đích thực trái cây có nhiều vitamin C nhưng rau củ cũng có vitamin C thậm chí còn nhiều hơn một số trái cây (nhưng qua chế biến lên dĩa chả còn nhiều). Vitamin E thì phổ biến nhất ở rau xanh lá và một số ít hạt có rất nhiều vitamin E ví dụ hạt hướng dương, đậu phộng, đậu nành, và hạt hạnh nhân

Kiến thức căn bản về chất chống oxy hoá:

Chất chống oxy hoá, bao gồm vitamin E, vitamin C, và nhiều loại khác, gọi nôm na là đội quân dọn rác. Rác ở đây  bao gồm 2 loại rác:

Loại rác #1: gốc tự do (free radicals).

Vậy các gốc tự do này ở đâu ra? Chúng đến từ môi trường (không khí bẩn, từ các chất hoá học thải ra trong môi trường, khói thuốc lá-thêm lý do không ở chung nhà với người hút thuốc, tia tử ngoại kể cả từ mặt trời.

Loại rác #2: goi tắt là ROS hay rõ ràng hơn là các chất gây phản ứng oxy hoá (tiếng Anh là REACTIVE OXYGEN SPECIES). ROS KHÔNG PHẢI là “gốc tự do” (free radicals). Chính xác hơn là khi cơ thể tiếp xúc với gốc tự do, gốc tự do sẽ kết hợp với oxy trong cơ thể gây ra phản ứng oxy hoá (ai còn nhớ kiến thức hoá lớp 8?). Kết quả của phản ứng oxy hoá đó là chất ROS. Chất ROS này tuy chỉ là “con” của gốc tự do nhưng nó cũng có năng lực tiêu huỷ tế bào khoẻ mạnh. Xui xẻo cho chúng ta là ngay cả khi cơ thể không bị ảnh hưởng của gốc tự do từ môi trường sống, ROS vẫn xuất hiện trong cơ thể hàng ngày.

What the hell? Khi chúng ta tập thể dục, cơ thể phân huỷ năng lượng qua phản ứng oxy hoá, sản xuất ROS. Khi chúng ta ăn uống, cơ thể phải phân huỷ thức ăn để biến chúng thành năng lượng tồn trữ (dưới dạng mỡ và đường glycogen), thì một lần nữa phải qua phản ứng oxy hoá và lại tạo ra ROS. Khi ROS tiết ra, chúng giống như quả lựu đạn, phá huỷ những tế bào lành mạnh trong cự ly gần nên nó ít tai hại hơn các chú gốc tự do vốn dĩ “tự do” bay nhảy bay đến đâu chết đến đấy.

Giải pháp: tránh tiếp xúc khói thuốc lá, không khí ô nhiễm, tia tử ngoại, sự bức xạ (ví dụ x ray), vân vân. Thứ hai, chú ý ăn uống nhiều thực phẩm giàu chất chống oxy hoá để đề phòng bệnh. Vâng biết là blog này viết về vitamin E và C nhưng chất chống oxy hoá trong cà rốt và trong quả việt quất là 2 chất khác nhau và cả hai đều không phải là vitamin E hay vitamin C. Ấy là lý do vì sao ngày  nào tôi cũng gặm nửa ký khoai lang tím hay cam và 2 quả khổ qua sống.

1/ Giới thiệu về vitamin E.

  • Vitamin E là vitamin tan trong mỡ.
  • Vitamin E, như vitamin D, K và nhiều dinh dưỡng khác có nhiều dạng. Vitamin E có tất cả 8 dạng (ai giỏi hoá hữu cơ thì chắc biết chúng) nhưng trong cơ thể con người chỉ có 1 trong số 8 là phù hợp. Tôi không định nhắc đến nó để làm bạn chán, nhưng là để giúp bạn sau này khi có chọn mua vitamin E ở hiệu thuốc thì biết loại nào xài được.
  • Dạng vitamin E duy nhất phù hợp: anpha tô cô phê rôn.
  • Trên bao bì sẽ ghi tên tiếng Anh của thuốc là alpha tocopherol

2/ Chức năng của vitamin E

Thứ nhất: Vitamin E hoạt động như chất chống oxy hoá

  • Vitamin E dĩ nhiên là một trong nhiều chất chống oxy hoá. Không phải chất oxy hoá nào cũng có chung chức năng. Như ta biết vitamin E là vitamin tan trong mỡ. Vì vậy, công việc chống oxy hoá của nó chỉ tích cực khi cơ thể phân huỷ chất béo trong cơ thể (bao gồm việc phân huỷ chất béo trong thực phẩm khi vào dạ dày và cả việc phân huỷ chất béo trong mỡ tích trong cơ bắp thông qua quá trình giảm cân).
  • Khi cơ thể phân huỷ chất béo, nó phải thông qua phản ứng oxy hoá. Khi điều đó xảy ra, cơ thể tạo ra ROS. Vitamin E sẽ được gọi đến để tiêu diệt ROS. (Cơ thể con người phân chia đẳng cấp rất chi tiết: phân huỷ chất béo tạo ra ROS thì chỉ vitamin E là number one trong việc tiêu huỷ ROS do quá trình oxy hoá chất béo, vitamin C không bằng).

Thứ hai: vitamin E gia tăng hệ miễn dịch (hay gọi là tăng sức đề kháng)

  • Vitamin E hay chính xác hơn là alpha tocopherol có khả năng tham gia vào việc kiểm soát gien di truyền và các phản ứng chuyển hoá và trao đổi chất, qua đó giúp các tế bào khỏe mạnh (nói thật với bạn, khi chúng ta bệnh từ bệnh nhỏ xíu như nhảy mũi đến bệnh chết người như ung thư đều xuất phát từ đơn vị nhỏ nhất trong cơ thể: tế bào).

Thứ ba: Vitamin E giúp giảm khả năng bệnh tim do nghẽn mạch

  • Khi các tiểu cầu (máu) trôi nổi trong mạch máu lâu ngày không được tiêu huỷ và sa thải, chúng sẽ kết hợp với nhau để to hơn. Một khi chúng bám vào thành mạch máu và càng tích tụ to hơn, khi đó ta thấy vài triệu chứng khác nhau ở những cá nhân khác nhau ( ví dụ như có người thấy huyết áp tăng đáng kể, có người thì mệt mỏi do lượng máu lưu thông giảm đi tại mấy tiểu cầu này ngáng đường), tuy nhiên, kết quả sau cùng thì chỉ có 1 thôi: tắt nghẽn động mạch.
  • Đó là quy tắc chung của việc tắt nghẽn mạch máu. Vậy vitamin E giúp ích gì? Vitamin E có chức năng gọi một số men giải enzyme làm việc với mạch máu bằng cách làm giãn nở mạch máu, qua đó việc tiểu cầu tích tụ không ảnh hưởng đến hoạt động của hệ tim mạch. Tuy vậy, bạn thấy rõ ràng vitamin E chỉ giúp làm giãn mạch máu (như ta mở rộng đường) nhưng ổ gà ổ voi thì vẫn đầy ra đó, sớm muộn gì cũng có lúc có chuyện, vì mạch máu có giãn nở thì cũng có mức nhất định.

3/ Liều lượng khuyến khích của vitamin E

Tính theo đơn vị quốc tế: International unit per day : IU/ngày

  • 0-6 tháng: 6 IU/ ngày
  • 7-12 tháng: 7.5 IU/ngày
  • 1-3 tuổi: 9 IU/ngày
  • 4-8 tuổi: 10.4 IU/ngày
  • 9-13 tuổi: 16.4 IU/ngày
  • 14 tuổi trở lên: 22.4 IU/ngày
  • Phụ nữ cho con bú: 28.4 IU/ngày

4/ Nguy cơ thiếu vitamin E:

  • Trẻ sinh non dưới 1.5 kg là đối tượng có khả năng thiếu vitamin E rất cao.
  • Những người ăn uống thiếu khoa học (ăn các vitamin tan trong mỡ nhưng lại không ăn mỡ kèm theo)
  • Những người có hệ tiêu hoá kém, không tiết ra mật để tiêu hoá mỡ thì cũng không hấp thụ được vitamin E, A, D, K.
  • Người bị hư gan
  • Người bị chứng xơ nang (cystic fibrosis hay CF)
  • Người bị bệnh Crohn.

5/ Khả năng ngộ độc vitamin E

Khả năng ngộ độc vitamin E từ thực phẩm hầu như không có vì chưa ai báo cáo. Tuy nhiên, những ai đều đặn nốc vitamin E supplement ở liều lượng 400 IU trong vài năm thì có thể có hậu quả không hay. Hậu quả gì?

Trước hết, đã có bằng chứng chỉ ra việc dùng vitamin E liều cao 400 IU mỗi ngày có thể làm giảm khả năng đông máu trong cơ thể (nghĩa là khi bị xuất huyết nội hay mất máu nhiều thì có thể tử vong).

Thứ hai, cũng đã có bằng chứng sử dụng vitamin E trong dạng thuốc bổ có thể gây xuất huyết nội ở một số đối tượng, đặc biệt ở người hút thuốc lá.

Ở mục (6) tôi sẽ trích dẫn các bài nghiên cứu liên quan đến “huyền thoại (không có thật) của vitamin E.

Rồi vậy dùng vitamin E trong thực phẩm thì 100% ok phải không? Có thể. Tùy theo bạn ăn uống nhiều thế nào. Hiện nay, với người trưởng thành thì khoảng 23 IU/ngày là liều khuyến khích. Và họ cho phép bạn dùng…đến…1500 IU/ngày (tức là gấp 65 lần hay chuyển sang % là 6500% từ thực phẩm-ăn chết luôn).

Nếu bạn ăn hơn 6500% vitamin E từ thực phẩm thì tự chịu trách nhiệm nhé! Nói vậy chứ chả ai ăn nhiều thế. Tôi ăn rau xanh nhiều hơn bất kỳ loại rau củ nào nhưng cũng chưa bao giờ tôi ăn hơn 3000% trong ngày (ý là ngày đó tôi nhai 2 kg cải xanh rồi thêm vài trăm gram rau chân vịt rồi một đống hạt hướng dương nữa)

6/ Huyền thoại vitamin E: cái gì cũng chữa được. Đúng hay sai?

Tất cả thông tin sau là trích từ viện sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ từ các bài nghiên cứu ở nước này và nhiều nước khác.

Thần thoại #1: Vitamin E chữa bệnh tim. Đúng hay sai?

Một nghiên cứu ở Phần Lan cho thấy trong số hơn 5000 người nạp vitamin E từ THỰC PHẨM trong 14 năm có dấu hiệu bệnh giảm đi đáng kể tuy nhiên không có báo cáo trung bình liều lượng hàng ngày.

Một nghiên cứu ở Mỹ cho bệnh nhân bệnh tim uống thuốc bổ vitamin E liều 400 IU  (thông dụng trên thị trường), trong vòng 4.5 năm liên tục cho thấy…vitamin E không cải thiện bệnh. Những bệnh nhân tiếp tục dùng thêm 2 năm nữa thì thấy 13% số người này bị đột quỵ tim và 21% số người bị chứng suy tim phải nhập viện.

Một nghiên cứu khác ở Mỹ cho phụ nữ trên 45 tuổi, khoẻ mạnh, dùng 600 IU trong 10 năm (vitamin E từ THỰC PHẨM) thì không thấy giảm khả năng bị tim so với người không dùng vitamin E (có lẽ do lười thể thao hay ăn uống nhiều mỡ và muối?). Tuy nhiên, trong số người có cho dùng vitamin E thì thấy khả năng tử vong do đau tim hay đột quỵ giảm đi 24%.

Một nghiên cứu nữa cho bệnh nhân dùng 400 IU vitamin E và 500 mg vitamin C thì thấy những người này không thuyên giảm bệnh, ngược lại bị tăng khả năng xuất huyết đột quỵ (vỡ mạch máu do đột quỵ)

Kết luận sau cùng về vitamin E và bệnh tim? Còn kết luận gì nữa: huyền thoại vitamin E chữa bệnh tim này không đủ bằng chứng thuyết phục. Bạn thấy các nghiên cứu ở Mỹ chủ yếu ở đối tượng trung niên và già và trong thời gian ngắn (10 năm) nên phải coi đến các bài nghiên cứu trên người trẻ với thời gian dài hơn thì mới biết vitamin E có khả năng phòng chống bệnh tim mạch. Nhưng hiện tại rõ là vitamin E không chữa được bệnh tim.

Thần thoại #2: Vitamin E phòng ung thư

Đề bài: Hãy chứng minh vitamin E phòng ung thư..

Theo lý thuyết, ta có:

  • A) vitamin E là chất chống oxy hoá
  • B) gốc tự do gây ung thư
  • C) chất chống oxy hoá giúp xoá bỏ gốc tự do.

Từ A, B, C ta suy ra vitamin E giúp phòng chống ung thư. Hết bài.

Kiểu A B C suy luận trên kia thật là thiếu logic. Phải chi cuộc đời đơn giản như kiểu suy luận đó. Nhưng buồn cười các bác nhà thuốc và sản xuất thuốc rất khoái lợi dụng sự kém hiểu biết và cả tin của người tiêu dùng, sử dụng cái kiểu suy luận trên để quảng bá thuốc bổ lung tung. Tất cả thuốc vitamin E dùng trong nghiên cứu đều là “thuốc bổ” mà ai cũng có thể mua trong siêu thị hay nhà thuốc, trừ những bài đã ghi rõ vitamin E từ thực phẩm.

Như đã nói trước kia, chất chống oxy hoá có cả đống loại khác nhau. Không phải chất chống oxy hoá nào cũng có công thức hoá học và chức năng như nhau. Do đó, vitamin E không thể là thứ thần dược cái gì nó cũng có để chữa bách bệnh. Thậm chí…ngược lại.

Ung thư tuyến tiền liệt: Một nghiên cứu cho 35,000 nam khoẻ mạnh trên 50 tuổi, dùng vitamin E 400 IU hàng ngày trong 5 năm không thấy giảm khả năng bị ung thư tuyến tiền liệt (prostate cancer). Nghĩa là trong 35000 người này qua năm năm vẫn có bị ung thư. Qua 5 năm này họ không dùng vitamin E nữa. Sau 18 tháng họ quay lại kiểm tra thì thấy 17% trong những ông đã dùng vitamin E 400 IU có dấu hiệu tăng khả năng bị ung thư tuyến tiền liệt.

Ung thư bọng đái: Một nghiên cứu ở bang Iowa cho 1 TRIỆU NGƯỜI, cho dùng vitamin E và vitamin C cho thấy: vitamin C không có tác dụng giảm tử vong ở người bị un thư bọng đái. Ở người dùng vitamin E thì thấy ai dùng vitamin E trong 10 năm có sự giảm sút nguy cơ tử vong do ung thư bọng đái (ai chết vì lý do khác như tai nạn, chết già vân vân không tính)

Ung thư vú: Nghiên cứu trên 18000 phụ nữ sau tuổi mãn kinh không thấy sự liên hệ giữa việc dùng thuốc vitamin E và giảm tử vong sau

Ung thư ruột kết (colon cancer): Kết quả cho thấy phụ nữ dùng vitamin E ở mức 37.5 IU/ngày ít có nguy cơ bị ung thư ruột kết. Tuy vậy, khi nghiên cứu ở đàn ông dùng 400 IU/ngày thì không có thấy tác dụng của vitamin E đâu. Theo tôi, vì liều lượng thuốc của 2 bài nghiên cứu khác nhau nên không  kết luận được liều càng cao thì càng…ít tác dụng. Cũng biết đâu đàn ông có thói quen ăn uống khác với phụ nữ (đàn ông thường ăn ít chất xơ và nhiều đạm) nên nghiên cứu không thấy tác dụng?

Kết luận sau cùng về vitamin E và ung thư?

Túm lại, đến nay chưa có bài nghiên cứu nào chứng minh vitamin E phòng chống ung thư (chứ nói chi là chữa). Thứ hai, nhưng ở chứng ung thư tuyến tiền liệt thì những ai khoẻ mạnh dùng vitamin E liều cao 400 IU/ngày thì có khả năng sau  này bị ung thư tuyến tiền liệt cao hơn người không dùng vitamin E.

7/ Thuốc và vitamin E: Phản ứng phụ do vitamin E

Những người sử dụng các loại thuốc sau thì phải tham khảo bác sĩ để coi nếu dùng vitamin E từ thuốc có được không (tuy nhiên tôi thấy vitamin E từ thuốc không cần thiết, trừ khi có chỉ định bác sĩ; tôi đang dùng vitamin E trong 1 tháng nay và thêm 6 tháng nữa nhưng đó là do tôi phải làm laser và phẩu thuật chỉnh hình nên phải dùng vitamin E và C liều cao để giúp liền sẹo nhanh nhưng không bao giờ phải dùng quá 1 năm vì quá trình trị liệu không kéo dài hơn 1 năm)

Thuốc chống đông máu (anticoagulant) và thuốc kháng tiểu cầu (anti platelet): Liều cao 400 IU trở lên có thể gây tác dụng phụ

Thuốc Simvastatin và vitamin B3 (niacin): hai thứ này thường dùng trong việc chữa chứng cholesterol cao nhưng khi dùng thêm vitamin E, vitamin C, và nhiều thứ chống oxy hoá khác như beta carotene từ vitamin A thì sẽ giảm hiệu quả của hai thứ vitamin B3 và Simvastatin

Hoá trị và xạ trị trong ung thư: Okay, không ai phủ định dùng chất chống oxy hoá để hạn chế hoạt động của gốc tự do và nhờ vậy ngăn chặn sự hình thành tế bào ung thư-tuy nhiên, bạn thấy rõ vấn đề là NGĂN CHẶN. Có lẽ tôi nói dư thừa, nhưng dinh dưỡng và thực phẩm không đóng vai trò “chữa trị” mà nó đóng vài trò “phòng bệnh”. Người xưa có câu “phòng bệnh hơn chữa bệnh. Xem ra con người thời nay lại theo kiểu: sống theo ý thích, khi bệnh tính sau.Đúng thật tuổi thọ con người ngày càng kéo dài do dinh dưỡng, do thuốc kháng sinh và ti tỉ thuốc khác như thuốc giảm huyết áp, insulin và không thể không kể đến sự phát triển máy móc dùng trong y tế. Tuy nhiên, sống lâu hơn nhưng lại sống LAY LẮT vì chất lượng cuộc sống thấp (chất lượng ở đây là hôm nay bạn thấy khoẻ hôn hay xìu xìu ểnh ểnh lay lắt như đèn cầy trong gió??)

Quay lại với xạ trị và hoá trị: người bị ung thư thường rất chú tâm đến chất chống oxy hoá vì nó giúp chống lại gốc tự do. Tuy nhiên, khi bạn đang trong quá trình xạ trị (radiation) hay hoá trị (chemotherapy) thì chịu khó nhịn đừng nạp chất chống oxy hoá, ví dụ như vitamin E (và rất nhiều món khác) vì mục đích của xạ trị và hoá trị là tiêu diệt tế bào ung thư bằng phản ứng oxy hoá. Mà bạn lại chăm chăm dùng chất chống oxy hoá thì phản ứng oxy hoá sao diễn ra được?

8/ Các yếu tố ảnh hưởng vitamin E trong chế biến và dự trữ

Nhớ 3 thứ: tránh sáng, tránh không khí, và tránh nhiệt độ cao (chiên chiên chiên)

Vitamin E khá bền hơn nhiều vitamin B. Nói thế không có nghĩa nó không có điểm yếu. Vitamin E trong dầu ăn sẽ bị huỷ đi 20-30% sau 6 tháng. Nhà ai có thói quen “quên đóng nắp chai dầu” thì 3 tháng như thế không còn vitamin E gì nữa.

Dầu ăn: dầu ăn thường trong lọ trong suốt…bạn nên cho dầu ăn vào chai đục hay tốt nhất là bỏ vào tủ lạnh để bảo quản tốt. Nấu xong thì cất chai dầu vào tủ lạnh.

Thêm nữa, nấu nướng ở nhiệt độ cao (172C hay 340F) sẽ huỷ đi 50% sau 3 giờ. Hết 6 giờ thì coi như không còn gì nữa.

Nhiệt độ càng cao thì thời gian phân huỷ sẽ thu ngắn lại. Do đó, khi nấu, chú ý đừng dùng phương pháp chiên (chiên kiểu chiên khoai lang hay khoai tây-deep fry) vì nhiệt độ dầu tăng cao hơn mức 172C nên chả ai biết còn bao nhiêu vitamin E trong thành phẩm.

Các loại hạt: nếu ăn sống được thì ăn sống. Đối với hạt, bạn không nên cho dầu vào trong chế biến (nếu bạn muốn rang) vì hạt có rất nhiều chất béo chứ không ai chiết xuất được dầu phộng.

9/ Danh sách thực phẩm giàu vitamin E:

Ai không sợ béo hay dùng hạt nhưng không sử dụng dầu ăn (như tôi) thì dễ dàng cho 1 phần hạt , thêm vào 0.5-1 kg rau cải các loại sau đây thì không lo thiếu vitamin E.

Phần trăm (%) sau đây đã bao gồm cho sự tiêu hao vitamin E trong chế biến. Nếu món nào ghi “sống” thì nên ăn sống, nếu rang thì ước chừng mất đi 25%-50% lượng vitamin E trong dạng đồ ăn sống. Đa số người ta ăn hạt rang (tôi thích hạt sống)

  • Hạt hạnh nhân, SỐNG 28 g (khoảng 12 hạt): 50 % vitamin E,
  • Hạt hạnh nhân, rang chín, 28 g, 34% vitamin E
  • Hạt hướng dương, SỐNG, 35 g, 64% vitamin E
  • hạt hướng dương rang chín, 28 g, 34% vitamin E
  • Hạt phỉ rang (hazelnut) , 28 g, 22% vitamin E.
  • Đậu phộng SỐNG, 35 g, 20% vitamin E, 83% biotin, 27% vitamin B3
  • Đậu phộng rang, 28 g, 11% vitamin E
  • Bơ đậu phộng (peanut butter, dry roast no oil added), 28g, 15% vitamin E.
  • Dầu ôliu, 14 g hay 15 mL trong chai hay dùng trong xà lách: 13% vitamin E
  • Dầu hướng dương (sunflower oil), 14 g hay 15 mL, chưa qua xào nấu: 28% vitamin E
  • Dầu nành, (soy bean oil), 14 g hay 15 mL, chưa xào nấu: 6% vitamin E
  • Dầu bắp (corn oil), 14 g hay 15 mL, chưa qua xào nấu: 10% vitamin E
  • Trái bơ, 150 g, 21% vitamin E
  • Bông cải xanh broccoli, 150 g, đã nấu: 13% vitamin E
  • Rau bina (spinach), 200 g, đã nấu 28% vitamin E,
  • Rau cải xanh (turnip greens): đã nấu, 150 g, 20% vitamin E
  • Măng tây (asparagus), 200g, đã xào nấu: 20% vitamin E
  • Trái ôliu, sống, bỏ hột hay loại đóng hộp, 135 g, 15% vitamin E, 25% sắt
  • Rau Swiss Chard (cải đỏ Thuỵ Sĩ), 175 g, đã nấu, 22% vitamin E.
  • Ớ hiểm, 1 trái, ăn sống bỏ hột, 14% vitamin E
  • Rau dền, 150 g, đã nấu: 19% vitamin E
  • Cải xoăn (kale), 130 g, đã nấu, 7% vitamin E
  • Ớt chuông, SỐNG, 100 G, 10% vitamin E
  • Tôm, nấu chín, 100 g, 15% vitamin E

10/ Vậy thuốc bổ vitamin E thì sao?

Đừng bao giờ dùng vitamin E từ thuốc ở liều cao ở thời gian dài trừ khi đó là chỉ định bác sĩ vì vitamin E như tôi đã phân tích trên, có thể gây nhiều hậu quả xấu cho sức khoẻ khi dùng quá liều. Đa số nhà thuốc bán vitamin E ở liều 400 IU trở lên (có hãng còn có 800 IU nữa)

Nếu bạn phải dùng vitamin E vì không chịu nạp từ thực phẩm thì hãy chọn vitamin E ở liều càng thấp càng tốt (nếu có tìm 100 IU như hình sau thì tốt nhất). Nếu nhà thuốc bán vitamin E ở liều “mg” ví dụ vitamin E 675 mg, mà họ không báo cho bạn biết liều IU tương ứng với mg đó thì hãy nhắn cho tôi, tôi sẽ cho bạn biết bao nhiêu IU trong thuốc bổ vitamin E đó.

vitamin-e

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s